Loading...

Luật Thi Đấu Cầu Lông Quốc Tế (P1)

Thảo luận trong 'Kỹ Thuật Cầu Lông Cơ Bản - Nâng Cao' bắt đầu bởi dhq2608, 11/5/13.

  1. dhq2608

    dhq2608
    Super Moderator

    [h=1]PHẦN I : LUẬT THI ĐẤU CẦU LÔNG[/h][FONT=Abril+Fatface]ĐIỀU I: SÂN ĐẤU
    1.1. Sân là một hình chữ nhật như trong sơ đồ “A” (trừ trường hợp trong điều 1.5) và kích thước ghi trong sơ đồ đó, các vạch kẻ rộng 40mm.
    1.2. Các đường biên đều phải dễ nhìn, tốt nhất là đường mầu trắng hoặc vàng.
    1.3.1. Để chỉ rõ vùng rơi của quả cầu đúng quy cách khi thử (điều 4.4) có thể kẻ thêm 4 dấu 40mm x 40mm phía trong đường biên dọc của sân đơn thuộc phần bên giao cầu bên phải, cách đường biên ngang cuối sân 530mm và 990mm.
    1.3.2. Khi kẻ các dấu này, chiều rộng của các dấu phải ở trong phạm vi kích thước đã nêu, nghĩa là dấu phải cách với cạnh ngoài của đường biên ngang cuối sân từ 530mm đến 570mm và từ 950mm đến 990mm.
    1.4. Mọi vạch kẻ đều là phần của diện tích được xác định.
    1.5. Nếu mặt bằng không cho phép kẻ được sân đánh đơn và đôi thì kẻ sân đánh đơn như trong sơ đồ “B”. Đường biên ngang cuối sân cũng đồng thời là đường biên giao cầu xa, các cột trụ hoặc bằng vải hay các vật liệu khác thay cho cột (điều 2.2) đều phải đặt trên đường biên dọc.
    ĐIỀU II: CỘT CĂNG LƯỚI
    2.1. Cột căng lưới phải cao 1m55 kể từ mặt sân, các cột phải vững chắc để có thể đứng thẳng và giữ cho lưới được thật căng như chỉ rõ ở điều 3 và phải được đặt trên biên dọc như trong sơ đồ A.
    2.2. Trường hợp không thể làm được cột trên các đường biên dọc, có thể dùng cách nào đó để chỉ rõ vị trí của các đường biên dọc phía dưới lưới, chẳng hạn dùng các cột thanh mảnh hơn, hoặc bằng vải hay các vật liệu khác có chiều rộng 4mm, cố định các vật thay thế này từ đường biên dọc và kéo thẳng đứng lên dây căng lưới.
    2.3. Trên sân đánh đôi, các cột hay các vật thay thế phải được đặt trên các đường biên dọc của sân đánh đôi, dù thực tế là thi đấu đơn hoặc đôi.
    ĐIỀU III: LƯỚI
    [​IMG]
    3.1. Lưới phải làm bằng dây nhỏ màu sẫm, mắt lưới không dưới 15mm và không quá 20mm.
    3.2. Lưới phải có chiều ngang 760mm.
    3.3. Phía trên lưới phải viền bằng 1 băng trắng, rộng 75mm có cấu tạo để luồn được dây căng lưới qua băng đó.
    3.4. Dây căng lưới phải có kích thước và trọng lượng thích hợp để có thể căng được lưới thẳng ngang đỉnh cột.
    3.5. Cạnh trên của lưới so với mặt sân phải cao 1m524 ở vị trí giữa sân và 1m55 tại đường biên dọc sân đôi.
    3.6. Không được để khoảng cách giữa lưới và cột, nếu cần có thể buộc các cạnh bên của lưới vào cột.
    ĐIỀU IV: CẦU
    Các nguyên tắc: Cầu có thể làm bằng vật liệu tự nhiên hay bằng vật liệu tổng hợp. Dù làm bằng vật liệu nào cầu cũng phải có các đặc tính bay như cầu làm bằng lông vũ tự nhiên với một đế li – e bọc một lớp da mỏng. Liên quan đến các nguyên tắc trên đây là:
    4.1. Mô tả đại cương:
    4.1.1. Cầu phải có 16 lông vũ gắn liền vào đế.
    4.1.2. Lông vũ có thể có chiều dài từ 64mm đến 70mm nhưng ở mỗi quả cầu tất cả các lông đều phải dài bằng nhau nếu đo từ đầu lông đến đỉnh của đế cầu.
    4.1.3. Phần đầu của các lông vũ này phải làm thành 1 vòng tròn có đường kính từ 59mm đến 68mm.
    4.1.4. Các lông vũ phải được gắn chặt với nhau bằng chỉ và các vật liệu thích hợp.
    4.1.5. Đế cầu phải: – Có đường kính từ 25mm đến 28mm. – Đáy phải tròn.
    4.2. Trọng lượng: Cầu phải có trọng lượng từ 4,74 đến 5,50gram.
    4.3. Cầu không có lông vũ:
    4.3.1. (Phần áo cầu) hay phần vật liệu tổng hợp thay cho lông vũ.
    4.3.2. Đế cầu đã nói ở điều 4.1.5.
    4.3.3. Kích thước và trọng lượng cầu được quy định trong điều 4.1.2, 4.1.3 và 4.2. Tuy nhiên do trọng lượng riêng và tính chất của các vật liệu tổng hợp khác với lông vũ nên có thể sai lệch trong phạm vi 10%.
    4.4. Thử cầu:
    4.4.1. Để thử cầu, phải đứng từ biên ngang cuối sân, đánh cầu vồng và thật mạnh vào cầu, cầu phải bay đi theo hướng đi lên, và song song với các đường biên dọc.
    4.4.2. Cầu đúng quy cách phải rơi không dưới 530mm và không quá 990mm tính từ biên ngang cuối sân phía bên kia.
    4.5. Sửa đổi: Không được có sửa đổi nữa về đại cương, tầm rơi và độ bay của cầu, chỉ có thể sửa đổi những quy định trên với sự đồng ý của các tổ chức Hội cầu lông có liên quan.
    4.5.1. Ở những nơi có các điều kiện khí quyển, vì lý do độ cao hay thời tiết không phù hợp với quả cầu chuẩn.
    4.5.2. Trong những hoàn cảnh đặc biệt đòi hỏi những điều kiện khác vì quyền lợi của trận đấu.
    ĐIỀU V: VỢT
    5.1. Mặt đánh của vợt phải bằng phẳng và cấu tạo bởi dây đan căng trên khung. Dây đan phải đồng đều và đặc biệt ở giữa vợt không được thưa hơn ở các chỗ khác.
    5.2. Khung vợt, kể cả cán không được vượt quá 680mm chiều dài và 230mm chiều rộng.
    5.3. Chiều dài của phần đầu vợt không được vượt quá 290mm.
    5.4. Diện tích căng dây không được quá 280mm chiều dài và 220 chiều rộng.
    5.5. Vợt:
    5.5.1. Trên vợt không được có các vật gắn thếm và những chỗ lồi lên, ngoài những chi tiết chỉ dùng đặc biệt vào mục đích hạn chế và chống tác dụng mòn rách, hoặc rung hay bị phân bổ trọng lượng hay để làm vững cán bằng dây buộc vào tay cầu thủ vừa phải về kích thước và lắp đặt chỉ với các mục đích đã nêu trên.
    5.5.2. Không được có bất kỳ một thiết bị nào giúp cho đấu thủ có thể thay đổi hình dạng của vợt.
    ĐIỀU VI: TRANG BỊ CHO PHÉP
    Liên đoàn Cầu lông quốc tế sẽ ra quy định về vấn đề vợt, cầu hoặc bất kỳ một trang thiết bị nào dùng đến trong thi đấu cầu lông là phù hợp với các quy định hay không phù hợp mà được phép hay không được phép sử dụng. Việc ra luật như vậy có thể được thực hiện trên cơ sở sáng kiến của Liên đoàn hay trên cơ sở áp dụng của một bên nào đó có thiện chí, trong đó bao gồm bất kỳ cầu thủ nào, nhà chế tạo dụng cụ hay tổ chức Hội thành viên nào.
    ĐIỀU VII: ĐẤU THỦ
    7.1. Từ “đấu thủ” áp dụng cho mọi người tham gia trận đấu.
    7.2. Trận đấu được thực hiện trong trường hợp đánh đôi với 2 đấu thủ một bên và trong trường hợp đánh đơn với một đấu thủ một bên.
    7.3. Bên được quyền giao cầu được gọi là “Bên giao cầu”, còn bên kia được gọi là “Bên nhận giao cầu”.
    ĐIỀU VIII: BỐC THĂM
    Trước khi bắt đầu cuộc đấu, hai bên sẽ bốc thăm, bên được thăm được quyền chọn theo điều 8.1.1 hoặc điều 8.1.2.
    8.1.1. Giao cầu hoặc nhận giao cầu.
    8.1.2. Bên thua bốc thăm sẽ chọn những điều còn lại.
    ĐIỀU IX: TÍNH ĐIỂM
    9.1. Hai bên thi đấu trong 3 hiệp, trừ khi có sự dàn xếp khác.
    9.2. Chỉ có bên giao cầu mới được tính điểm.
    9.3. Trong thi đấu đơn nam, đôi nữ, đôi nữ và đôi nam nữ bên dẫn trước 15 điểm sẽ thắng hiệp đó, trừ khi có xảy ra như điều 9.6.
    9.4. Trong thi đấu đơn nữ, bên dẫn trước 11 điểm sẽ thắng hiệp đó, trừ khi có xảy ra như Điều 9.6.
    9.5. 1. Khi điểm số là 14 đều đối với đơn nam, đôi nam, đôi nữ, đôi nam nữ (hoặc 10 đều đối với đơn nữ) thì bên dẫn điểm trước ở tỷ số 14 (hoặc 10 đều) sẽ được quyền lựa chọn đánh thêm hoặc không lựa chọn đánh thêm 3 điểm cho hiệp đấu (theo điều 9.6).
    9.5.2. Việc lựa chọn này chỉ được thực hiện một lần đối với bên nào dẫn điểm trước ở tỷ số 14 đều đối với đơn nam, đôi nữ, đôi nam nữ (hoặc 10 đều đối với đơn nữ) và phải thực hiện trước khi quả giao cầu tiếp theo.
    9.6. Khi hiệp đấu đã lựa chọn số điểm gọi là không đều (LOVE ALL), bên nào đạt trước số điểm được chọn sẽ thắng hiệp đó (Điều 9.6.1; điều 9.6.2).
    9.6.1. Đơn nam, đôi nam, đôi nữ, đôi nam nữ tỷ số 14 đều đánh thêm 3 điểm.
    9.6.2. Đơn nữ tỷ số 10 đều đánh thêm 3 điểm.
    9.7. Bên thắng hiệp đấu sẽ giao cầu trước ở hiệp sau.
    ĐIỀU X: ĐỔI BÊN
    10.1. Các đấu thủ đổi sân:
    10.1.1. Sau hiệp thứ nhất.
    10.1.2. Trước khi bắt đầu đấu hiệp thứ ba.
    10.1.3. Ở hiệp thứ 3 khi điểm số đạt 8 điểm ở hiệp đấu 15 điểm (hoặc 6 điểm ở hiệp đấu 11 điểm) các đấu thủ của hai bên thực hiện đổi sân.
    10.2. Khi đấu thủ quên không đổi sân như đã hướng dẫn ở điều 10.1, họ phải đổi sân ngay khi lỗi lầm được phát hiện và điểm số hiện tại vẫn được giữ nguyên.
    10.3. Thời gian nghỉ giữa các hiệp đấu: – Hết hiệp 1 trước khi vào hiệp hai các vận động viên được nghỉ tối đa 90 giây. – Hết hiệp 2 trước khi vào hiệp 3 các vận động viên được nghỉ 5 phút. Huấn luyện viên được phép chỉ đạo trong hai thời gian nghỉ trên.
    ĐIỀU XI: GIAO CẦU
    11.1. Qủa giao cầu đúng khi:
    11.1.1. Không bên nào gây nên sự cản trở quá mức việc giao cầu.
    11.1.2. Người giao và nhận cầu phải đứng chéo đối diện với phần sân giao cầu và không được chạm đường biên của những phần sân giao cầu và không được chạm đường biên của những phần sân nhận giao cầu; một phần của cả hai bàn chân của người giao và nhận cầu phải tiếp xúc (chạm) mặt sân ở tư thế không di chuyển cho đến khi cầu được phát đi (Điều 11.4).
    11.1.3. Vợt của người giao cầu phải tiếp xúc vào phần núm của quả cầu và lúc này toàn bộ quả cầu phải nằm ở phía dưới thắt lưng của người giao cầu.
    11.1.4. Tay nắm cảu người giao cầu vào lúc chạm cầu phải được xác định là toàn bộ mặt vợt (đầu vợt) phải được thấy rõ dưới toàn bộ tay cầm vợt của người giao cầu.
    11.1.5. Vợt được tiếp tục chuyển động về phía trước khi giao cầu (điều 11.2) cho đến khi cầu được phát đi.
    11.1.6. Hướng bay của cầu phải được xuất phát từ vợt bay qua trên lưới, nếu không bị chặn lại và rơi xuống phần sân nhận cầu. – Nếu khi giao cầu, cầu bay chạm vào mép trên lưới, nhưng rơi vào trong khu vực nhận cầu thì lần giao cầu đó là hợp lệ.
    11.2. Khi đấu thủ đã ở tư thế chuẩn bị, đã có động tác vợt (vợt phía trước) coi như đã bắt đầu giao cầu.
    11.3. Người giao cầu chưa được giao cầu khi người nhận cầu chưa sẵn sàng, nhưng người nhận cầu coi như đã sẵn sàng nếu đã định đánh trả cầu.
    11.4. Coi như đã giao cầu khi đã chạm vợt (người giao cầu) hoặc cầu chạm mặt sân.
    11.5. Trong đánh đôi, các đấu thủ đồng đội có thể đứng ở bất kỳ vị trí nào trên sân miễn không cản trở đối phương.
    ĐIỀU XII: ĐÁNH ĐƠN
    12.1. Đấu thủ sẽ giao cầu từ, hoặc nhận cầu tại ô bên phải sân khi đối phương có điểm số chẵn.
    12.2. Đấu thủ sẽ giao cầu từ hoặc nhận cầu tại ô bên trái sân khi đối phương có điểm số lẻ.
    12.3. Trong hiệp đấu, tổng số điểm đạt được của người giao cầu sẽ được dùng để áp dụng điều 12.1 và 12.2.
    12.4. Cầu lần lượt chạm vợt người giao và nhận cầu cho đến khi có “lỗi” xảy ra hoặc cầu không còn trong cuộc.
    12.5. Khi người nhận cầu phạm lỗi hoặc khi cầu không còn trong cuộc mà cầu chạm sân trong vạch giới hạn của sân phía nhận cầu, người giao cầu được 1 điểm, người giao tiếp tục giao cầu từ phần sân kế tiếp.
    12.6. Khi người giao cầu phạm lỗi, hoặc khi cầu không còn trong cuộc mà cầu chạm sân trong vạch giới hạn của sân phía giao cầu, người giao mất quyền giao cầu tiếp tục, người đang nhận cầu được quyền giao cầu và không tính điểm cho bên nào cả.
    [/FONT]
    Loading...
    Tags:

Chia sẻ trang này

Đang tải...