Loading...

Dinh dưỡng và Doping trong cầu lông (Phần 2)

Thảo luận trong 'Thể Lực' bắt đầu bởi Guan™, 12/7/13.

  1. Guan™

    Guan™
    VĐV Chuyên Nghiệp

    [FONT=Abril+Fatface] II. Thuốc và thể thao[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] Thuốc là một chất hoá học có thể làm thay đổi hệ sinh hoá khi được đưa vào cơ thể. Hầu hết các thuốc được chế tạo để cải thiện một sự mất cân bằng gây ra do một bệnh. Ví dụ, một loại thuốc đơn giản thường gặp là paracetamol, cơn đau đầu biến mất nhờ vào sự thay đổi mà nó gây ra trong cơ thể bạn. Tuy nhiên, khi thuốc được sử dụng trên một cơ thể khoẻ mạnh thì không phải lúc nào nó cũng đạt được tác dụng mong muốn. Tất cả các thuốc đều có một vài tác dụng phụ.[/FONT]
    [​IMG]
    Dinh dưỡng và Doping trong cầu lông
    [FONT=Abril+Fatface] 1.Luật về thuốc[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] Năm 1971 ở Hoa Kì đưa ra một đạo luật gọi là Misuse of Drugs Act. Nó xác định một danh sách các chất nguy hiểm hay độc hại và gọi là “thuốc được kiểm soát”. Chúng lại được chia làm 3 nhóm và có nhiều hình phạt khác nhau cho việc sở hữu bất hợp pháp các chất này. Các nhóm này được phân chia dựa theo tính độc tiềm tàn của nó. Sau đây là danh sách một số chất:[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] • Nhóm A – opium, heroin, methadone morphine, các chất gây ảo giác (như LSC), amphetamine loại tiêm.[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] • Nhóm B – thuốc gây ngủ, barbiturate một số, cây cần sa, nhựa cần sa, và 6 thuốc kích thích của nhóm amphetamine.[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] • Nhóm C – các thuốc amphetamine khác, 36 thuốc an thần benzodiazepine và nhiều thuốc an thần non-barbiturate khác.
    Các thuốc này thường được gọi là ‘thuốc xã hội’. Các hình phạt cho việc vi phạm thuốc nhóm C có thể trải từ chung thân tới tử hình.[/FONT]
    [FONT=Abril+Fatface] Có bằng chứng cho thấy các vận động viên thường sử dụng các thuốc này, nhưng lại có ít bằng chứng cho thấy chúng cải thiện được thành tích. Nếu họ bị phát hiện có sử dụng các thuốc trong danh sách, họ có thể bị cảnh sát bắt giữ và thể chế kiểm soát môn thể thao của họ cũng sẽ xử lý họ.[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] Hầu hết các vận động viên có liên quan tới việc dùng thuốc đã làm việc này với hi vọng rằng nó sẽ làm họ chơi tốt hơn. Họ thường dùng các thuốc được gọi là ‘thuốc là tăng thành tích’. Các thuốc này bị cấm bởi Uỷ ban Olympic quốc tế (IOC). Năm 1993 IOC đã xác định các nhóm thuốc doping sau:[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] A các chất kích thích
    B các chất giảm đau gây ngủ
    C các chất tăng đồng hoá
    D các chất lợi tiểu
    E các hormone peptide và glycoprotein cùng các chất tương tự.[/FONT]
    [FONT=Abril+Fatface] Cùng với danh sách thuốc nói trên, nó cũng xác định các nhóm chất có bị hạn chế phần nào:[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] A cồn
    B cần sa
    C các chất gây tê
    D corticosteroid
    E chất ức chế beta[/FONT]
    [FONT=Abril+Fatface] Các thuốc này không phải bất hợp pháp hoàn toàn mặc dù việc trao đổi, mua bán các steroid đồng hoá là bất hợp pháp. Các thể chế chính phủ về thể thao đã cấm việc sử dụng chúng và tiến hành các biện pháp để ngăn vận động viên sử dụng chúng.[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] 2.Các nhóm doping[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] IOC đã định nghĩa chính xác doping là gì. ‘Doping là các việc làm mâu thuẫn với đạo đức thể thao và y học’. Hội động y khoa của IOC đã cấm các việc sau:[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] 1 Sử dụng các chất thuộc về các nhóm dược chất sau: chất kích thích, chất gây ngủ, chất tăng đồng hoá, chất lợi tiểu, hormone peptide và các chất tương tự.[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] 2 Sử dụng các phương pháp doping khác nhau: các thủ thuật dùng thuốc, hoá chất và vật lý.[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] a. Sau đây là các dạng và tác động chi tiết của chúng:[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] Các chất kích thích[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] Các chất này làm tăng sự tập trung, giảm mệt mỏi và có thể làm tăng tính ưa cạnh tranh và sự thù địch. Chúng cúng có thể gây giảm khả năng phán xét và điều này có thể gây ra tai nạn trong một số môn thể thao.
    Dùng quá liều chất kích thích sẽ có thể gây chết. Điều này đã xảy ra 2 lần trong các kì thi đua xe đạp, một lần ở Olympic và một ở Tour de France.[/FONT]
    [FONT=Abril+Fatface] Các tác dụng phụ khác có thể bao gồm:[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] • Tăng huyết áp và nhức đầu.
    • Nhịp tim tăng và rối loạn.
    • Lo lắng và run.
    • Vô cảm với các chấn thương nghiêm trọng.
    • Nghiện[/FONT]
    [FONT=Abril+Fatface] Có một nhóm chất kích thích khác thường gọi là chất đồng vận beta2 và chúng được xếp loại vừa là chất kích thích vừa là chất tăng đồng hoá.
    Có rất nhiều chất kích thích có trong điều trị cảm lạnh, sốt hay hen suyển, do đó việc kiểm tra với dược sĩ trước khi dùng bất cứ thuốc nào trước thi đấu là rất quan trọng.[/FONT]
    [FONT=Abril+Fatface] Một chất kích thích được nhiều người biết khác là caffein (có trong trà và cà phê) và có một mức nồng đô cao nhất là 12 microgram/ml trước khi bị xem là làm tăng thành tích. Cocaine cũng là một chất kích thích khác và nó là một trong các thứ thuốc khác được kiểm soát, do đó bất hợp pháp.[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] Các chất giảm đau gây ngủ[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] Chúng bao gồm morphin, heroin và codeine. Lí do chính mà chúng bị cấm là vì chúng che dấu các tác động của bệnh và chấn thương. Chúng kềm chế cảm giác đau nhưng tác dụng phụ của chúng là:[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] • Ức chế hô hấp.
    • Gây phụ thuộc thể chất và tâm lý.
    • Kiệt sức hay tập luyện quá mức.
    • Táo bón.
    • Lãnh đạm quá mức[/FONT]
    [FONT=Abril+Fatface] Các vận động viên phải rất cẩn thận khi vạch ra ranh giới giữa điều trị chấn thương và thật sự che đậy hoàn toàn nó bằng cách dùng các chất giảm đau gây ngủ. Một chấn thương nghiêm trọng hơn nhiều có thể xảy ra và việc nghiện các thuốc này có thể dẫn tới cái chết.[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] Các chất tăng đồng hoá[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] Đây có lẽ là loại thuốc phổ biến nhất và bị lạm dụng nhiều nhất trong thể thao. Loại chính được gọi là androgenic anabolic steroid. Đây là một nhóm gồm các hợp chất vừa tự nhiên vừa tổng hợp rất giống với hormone sinh dục nam là testosterone. Testosterone có 2 tác động chính:[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] • Tác động androgenic – làm tăng sự phát triển của các đặc điểm nam giới
    • Tác động đồng hoá – kích thích việc xây dựng mô cơ.[/FONT]
    [FONT=Abril+Fatface] Có hơn một trăm loại thuốc steroid tăng đồng hoá sẵn có trên thị trường. Loại phổ biến nhất là nandrolone, testosterone, stanozolol and boldenone. Chúng được dùng dưới dạng viên, nhưng một số loại steroid có thể được tiêm trực tiếp vào cơ.[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] Steroid lúc đầu được phát triển vì chúng giúp chữa tình trạnh suy nhược, các bệnh xương và có ích trong việc điều trị ung thư vú.[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] Ghi nhận lần đầu việc vận động viên sử dụng steroid là vào năm 1950 khi một số vận động viên thể hình và cử tạ bắt đầu sử dụng chúng. Việc này hiện nay đã lan sang các môn thể thao khác vì vận động viên cảm thấy rằng chúng có thể giúp họ qua việc:[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] • Làm tăng sức cơ.
    • Cho phép họ tập luyện nặng hơn và lâu hơn.
    • Làm tăng tính cạnh tranh của họ.[/FONT]
    [FONT=Abril+Fatface] Không có bằng chứng thực tế nào củng cố cho các tuyên bố rằng các thuốc này có thể gây ra tác động mạnh như vậy, nhưng có chứng cứ gợi ý rằng chúng có thể giúp trong tập luyện. Dùng steroid có thể cho phép vận động viên tập luyện lâu hơn và tốt hơn. Vì thế nên chúng thường được gọi là “thuốc tập luyện.” Chúng cho phép các vận động viên tập luyện rất nặng và sau đó ngưng sử dụng thuốc đủ lâu trước khi thi đấu để đảm bảo rằng các dấu hiệu của nó không được phát hiện khi kiểm tra. Việc này làm cho việc kiểm tra chính xác việc sử dụng loại thuốc này rất khó khăn.[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] Một người chạy nước rút sử dụng steroid để hỗ trợ tập luyện sẽ chỉ cần một sự tiến bộ 10% để chuyển từ một vận động viên đẳng cấp khu vực tới lập kỉ lục quốc tế.[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] Nguy cơ trong việc dùng steroid là khá nghiêm trọng và được liệt kê sau đây.[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] • Các rối loạn ở gan và bệnh tim
    - Nó có thể gây các tổn thương nghiêm trọng ở cấu trúc gan và dẫn tới vàng da, suy gan, u gan và chảy máu gan. Có một vận động viên thể thình 26 tuổi đã từng dùng steroid trong nhiều năm và chết vì ung thư gan.
    Quả tim có thể bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong thành phần chất béo. Điều này có thể dẫ tới khả năng đau tim cao hơn cũng như là tăng huyết áp.[/FONT]
    [FONT=Abril+Fatface] • Các vấn đề thể chất và tình dục
    - Ở trẻ em, sự tăng trưởng có thể bị ảnh hưởng hay thậm chí là ngưng. Đàn ông có thể bị giảm sản xuất tinh trùng và vô sinh. Có thể bị teo và cứng tinh hoàn, bất lực và thậm chí là to vú.
    Phụ nữ có thể bị rối loạn chu kỳ kinh nguyệt và sự rụng trứng, thay đổi ở cơ quan sinh dục, hói, mụn trứng cá, mọc râu và giọng nói trầm. Steroid cũng có thể gây sảy thai, chết non hay tổn thương bào thai, đặc biệt là giai đoạn mang thai ban đầu.[/FONT]
    [FONT=Abril+Fatface] • Tác động tới hành vi
    - Có thể có các thay đổi rõ rệt về hành vi ở một số người, chẳng hạn như tăng ủ rủ và hung hăng. Các thay đổi có thể mạnh tới mức trở thành rối loạn tâm thần.[/FONT]
    [FONT=Abril+Fatface] Tất cả các rối loạn này phụ thuộc vào lượng và thời gian đã sử dụng steroid. Các tác động có thể đảo ngược nếu họ dừng lại đủ sớm.
    Cũng nên nhớ rằng các chất đồng vận beta2 cũng có các tác động tăng chuyển hoá và có thể có các tác dụng phụ tương tự.[/FONT]
    [FONT=Abril+Fatface] Corticosteroid cũng có các tác dụng phụ khá nghiêm trọng bao gồm:[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] • Tăng huyết áp
    • Giữ muối và nước
    • Mất potasium
    • Yếu xương và cơ
    • Rối loạn tâm thần chẳng hạn như hưng cảm, trầm cảm, hoang tưởng bộ phận
    • Đái tháo đường
    • Ức chế tăng trưởng ở trẻ em[/FONT]
    [FONT=Abril+Fatface] Các chất lợi tiểu[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] Các chất này được y học sử dụng để giảm lượng dịch thừa trong cơ thể và để quản lý cao huyết áp. Các vận động viên có thể lợi dụng chúng:[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] • Để giảm nhanh trọng lượng khi phân loại theo cân nặng là quan trọng.[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] • Để giảm nồng độ các chất nhờ pha loãng nước tiểu.
    Vì tác động thứ cấp này, một số nhà chức tránh đã giành quyền lấy mẫu nước tiểu của vận động viên ngay trước khi thi đấu.[/FONT]
    [FONT=Abril+Fatface] Các hormone peptide và glycoprotein cùng các chất tương tự[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] 1 Chorionic gonadotrophine (HCG – Human Chorionic Gonadotrophin) – chất này có tác dụng làm tăng nồng độ steroid androgenic có sẵn trong cơ thể và cũng làm tăng mức testosterone.[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] 2 Corticotrophin (ACTH) – Chất này được dùng để tăng nồng độ corticosteroid và làm tăng sự hưng phấn.[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] 3 Hormone tăng trưởng (HGH, somatrophin) – Chất này được dùng để làm tăng sự tăng trưởng và có một số tác dụng phụ rất nghiêm trọng. Khi dùng hormone này từ một nguồn không tinh khiết sẽ bị một bệnh được gọi là bệnh Creutzfeldt Jacob tác động đến hệ thần kinh. Bệnh này có thể chết người.[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] 4 Erythropoietin (EPO) – Chất này xuất hiện tự nhiên trong thận và điều hoà sự sản xuất hồng cầu. Nó có thể có một tác động tương tự như doping máu.[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] Tất cả các chất trên đều có sẵn trong cơ thể nhưng lạm dụng thuốc sẽ làm tăng nồng độ này một cách nhân tạo. Chính các nồng độ này cần được kiểm tra và bị cấm.[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] Doping máu[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] Cách đây một vài năm, các vận động viên chạy bền đã sử dụng nó để giúp máu của họ vận chuyển oxygen hiệu quả hơn. Việc này cần phải truyền máu: vận động viên sẽ bị lấy máu đi, tập luyện với lượng máu bị suy giảm rôi sau đó máu sẽ được đưa trở lại. Nó có thể được thay thế bởi máu của một người khác, hồng cầu hay các sản phẩm liên quan.[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] Việc này từng được dung thứ nhưng giờ thì đã cấm. Các tác dụng phụ có thể là:[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] • Các phản ứng dị ứng như nổi ban hay sốt.
    • Tổn thương thận cấp tính nếu loại máu được dùng không phù hợp.
    • Các phản ứng truyền máu muộn có thể dẫn tới sốt và vàng da.
    • Sự lây truyền các bệnh nhiễm như viêm gan siêu vi và HIV.
    • Qua tải tuần hoàn và sốc chuyển hoá.[/FONT]
    [FONT=Abril+Fatface] Cùng với việc cấm sử dụng doping máu, IOC cũng đã cấm sự dính líu tới những gì được gọi là thủ thuật dược lý, hoá học và vật lý. Việc này bao gồm những thứ như thay đổi mẫu nước tiểu hay dùng các kiến thức y học để hỗ trợ vận động viên.[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] Chất ức chế beta[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] Chúng được kê toa cho những người có bệnh ở tim. Chúng làm chậm và kiểm soát nhịp tim. Trong một số hoạt động chúng tỏ ra không có lợi ích thực tế nào nhưng trong một số hoạt động khác chúng đã được xác định là có tạo ra lợi thế. Vì vậy các chất ức chế beta bị cấm trong:[/FONT] [FONT=Abril+Fatface] • Bắn cung
    • Lái xe trượt băng
    • Lặn và bơi đồng bộ
    • Năm môn phối hợp hiện đại
    • Bắn súng
    • Trượt tuyết nhảy xa
    • Trượt tuyết tự do.[/FONT]
    [FONT=Abril+Fatface] Sử dụng chất ức chế beta trong các kì thi cần sức bền sẽ thật sự làm giảm thành tích nhưng có những trường hợp chúng được sử dụng trong thể thao để làm dịu thần kinh và giữ cho vận động viên bình tĩnh.[/FONT]
    [FONT=Abril+Fatface] Sưu tầm
    [/FONT]
    Loading...
    Tags:
  2. haducdiem01941985

    haducdiem01941985
    Mới Tập Cầu Lông

    Lắp chảo Vinasat up phụ! truyenhinhsovetinh.net

Chia sẻ trang này

Đang tải...